Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2020

NGƯỜI ÍT NÓI


 Sự nhàn rỗi khiến con người dễ đâm ra bi quan, chán nản. Những gì của hôm qua đều tốt hơn hôm nay. Sự việc của năm này tệ hơn năm trước. Cả sức khỏe cũng vậy, dĩ nhiên. 

Tôi cố gắng vùng thoát khỏi sức ỳ của cảm giác, tìm vui trong những điều bình thường. Có khi được, khi không. Nhưng cuộc sống luôn chuyển động không ngừng, nhiều điều mới mẻ xảy đến khiến tôi bị cuốn theo, sớm quên đi những muộn phiền không đáng. 

Sáng sớm, lang thang dọc theo đường Hàng Tre đến Miếu bà Cố thì quay lại. Con đường hàng ngày tôi đi bộ tập thể dục sao hôm nay đông vui thế. Các quán ăn tấp nập khách ra vào. Cà phê lề đường, à không, cà phê bày cả xuống lòng đường, có nhiều khách lớn tuổi đang rì rầm tám chuyện. Một bà bán vé số chặn đường tôi, mời mọc. Tôi mua 2 tấm thử vận may, dù biết rằng còn lâu mới trúng.

Đi ngang tiệm hủ tíu quen vừa ăn lúc sáng, ông bố cô chủ quán đang sắp xếp xe cộ, mĩm cười hỏi:

  • Tập thể dục hả anh?

Tôi gật gù, ậm ừ đáp. Ông bố này rất vui tánh, hay xởi lởi với khách. Nhưng tôi rất hiếm khi trò chuyện với ông, chỉ trả lời qua loa, chiếu lệ. Càng ngày tôi thấy mình càng ít nói, không hiểu tại sao. Lúc xưa tôi hoạt bát lắm, thuộc dạng lắm lời trong nhóm nhiều chuyện. Giờ đây về nhà vợ, tôi ngồi nghe thì nhiều, góp lời thì ít. Nhất là với mấy đứa em cột chèo, lắm khi chẳng biết nói gì, trong khi họ chuyện vãn với nhau thật rôm rả, ăn ý. Nhưng rồi mọi người cũng quen dần tánh tôi, tôn trọng “không gian riêng” của tôi. 

Có điều, chơi với mấy đứa nhỏ thì tôi rất hào hứng, nói này nói nọ, đủ thứ trên trời dưới đất. Và hay cười lớn tiếng nữa. Tôi yêu trẻ con. Tôi có thể làm quen với nít nhỏ trong tích tắc. Chúng cũng thích tôi nữa.

Tôi ở nhà một mình, suốt ngày, không một tiếng nói. Chỉ khi đón vợ về tôi mới bắt đầu trò chuyện. Hơn ba năm rồi, từ ngày về quận 9 tôi đã bắt đầu cuộc sống như thế. 

Đi xe khách quen của vợ tôi về Định Quán, ngồi ca bin, vợ và tài xế hay chuyện trò, còn tôi im lặng. Lúc đầu có bác tài hỏi nhỏ vợ tôi:

  • Chồng em người nước ngoài hả?

Vợ tôi cười ngất:

  • Người Việt. Tại ảnh ít nói thôi. 
  • Thấy giống giống Đài Loan.

Nhưng những lúc xuống xe tôi đều nói “Cám ơn bác tài” hoặc “Cám ơn anh Châu”, “Cám ơn anh Dũng”...Ngược lại, có tài xế xe 16 chỗ kia, khi nghe tôi nói “Chào bác tài” lúc lên và “Cám ơn bác tài” lúc xuống lại im lặng không hồi đáp nên từ đó về sau tôi không nói nữa. 

Nghĩ cũng lạ, không hiểu sao một con người từ chỗ bặt thiệp, cởi mở trong giao tiếp lại có thể trong một thời gian ngắn trở thành khép kín, kiệm lời đến vậy. Có một người bạn thân trước đây chơi với tôi rất hợp, thường rủ rê nhau đi chơi ăn uống hát hò, mới vừa rồi ghé thăm tôi. Tôi cảm thấy tình cảm vẫn như xưa nhưng cách giao đãi đã khác, không còn hứng thú, vồn vã, chủ yếu do tôi ít nói. Người ấy ra về, có lẽ nghĩ tình bạn đã nhạt phai, chắc còn lâu lắm mới ghé thăm lần nữa. 

Người trầm tính, ít nói thường cô đơn, nhưng phải chăng giống như Albert Einstein đã từng nói: “Sự buồn tẻ và cô đơn của một cuộc sống thinh lặng kích thích một tinh thần sáng tạo”


(28.11.2020)

Thứ Sáu, 27 tháng 11, 2020

Rạp xi-nê Sài Gòn trước 1975



 Hồi trước 75 ở Sài Gòn có rất nhiều rạp chiếu bóng, từ bình dân đến hạng sang, đâu như gần 60 rạp. Ở quận 1 có Rex, mini Rex, Casino Saigon, Eden, Lê Lợi...Quận 5 có Đại Quang, Victory Lê Ngọc, Palace, Opera...Các rạp sang trọng tập trung ở quận 1, chuyên chiếu các phim Âu Mỹ, còn quận 5 chuyên phim Hồng Kông, chủ yếu là võ thuật. Có 2 rạp màn ảnh rộng 70 ly, đó là Rex và Vistarama Quốc Tế. Tôi nhớ phim màn ảnh rộng đầu tiên được chiếu ở hai rạp này là “Hổ, hổ, hổ”, tên nước ngoài là “Tora, Tora,Tora” nói về cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng năm 1941. 

Tôi là fan của phim quyền cước Hồng Kông nên thường túc trực ở rạp Victory và Đại Quang ở Chợ Lớn. Ban ngày rạp bán vé thường trực, đến 2 giờ chiếu mới bán xuất. Giá vé buổi sáng tất nhiên rẻ hơn, chỉ bằng phân nửa buổi chiều, lại được ngồi xem tiếp khi phim đã hết. Khi chiếu xuất, đến gần giờ chiếu thì ngưng bán vé. Trong lúc chờ xuất chiếu, nhân viên bảo vệ cầm đèn pin đi từng hàng ghế để soát vé, vé nào không ghi đúng giờ chiếu thì khách sẽ bị mời ra. Tôi nhớ có lần xem xuất thường trực buổi sáng, phim hay quá nên nán lại qua đến xuất chiều. Vậy là bị bảo vệ đuổi. 

Lang thang, thơ thẩn thế nào mà một hôm tôi lại lạc vào rạp Vĩnh Lợi gần chợ Bến Thành, sau đó mới biết nơi này là “tụ điểm” của các tay pê đê. Rạp cũng khá vắng khách nhưng khi tôi vừa an tọa đã có liền một anh chàng cao ráo đẹp trai đến ngồi cạnh. Anh ta mời tôi kẹo Chewing gum, tôi từ chối. Khi đèn trong rạp tắt, tôi cảm giác thấy đùi mình đang bị mò mẫm. Thấy ghê ghê, tôi quát khẽ:

  • Làm cái gì vậy?

Một anh ngồi ở hàng ghế sau tôi chồm lên nói nhỏ:

  • Bạn thông cảm. Nó có bệnh. 

Tôi không thể tiếp tục ngồi xem phim, bỏ ra ngoài như bị ma đuổi. Khỏi phải nói là tôi từ bỏ rạp chiếu ấy từ ngay bữa đó. 

Ở quận 10 có một rạp chiếu phim bình dân tên gọi Mỹ Đô. Một bữa kia hết phim mới để xem, thấy Mỹ Đô chiếu “Giã từ làng du đảng” có Địch Long, Khương Đại Vệ đóng nên vào xem thử. Vào rạp rồi mới hối hận, hiểu thế nào là rạp “bình dân”. Ngồi ở giữa rạp mà vẫn nghe mùi khai nồng cả mũi. 

Xem phim võ thuật chán chê, tôi mò ra quận 1, mua vé vào xem phim Tây ở rạp Lê Lợi. Phim “Nối lại tình xưa” (To love again) ướt át, cảm động quá. Lần tiếp theo thấy tựa phim lạ quá nên tôi lại ghé xem. Bộ phim “Một chút mặt trời trong nước lạnh” (Un Peu de Soleil dans l'Eau Froide). Phim hay quá. Đó là quảng thời gian đầu tiên tôi tiếp cận với phim Âu Mỹ. 

Mỗi lần Tết đến quả đúng là “trăm hoa đua nở”, các rạp chiếu phim chỗ nào cũng đầy ắp khán giả. Đến như rạp Long Phụng chuyên chiếu phim Ấn Độ cũng có đông người xem. Phim Việt Nam chiếu Tết, phim nào cũng hốt bạc. Phim Hồng Kông, khán giả rồng rắn xếp hàng mua vé. Tôi nhớ năm 1973 diễn viên Lý Tiểu Long qua đời, phong trào phim võ thuật Hồng Kông càng rộ lên với nhiều tên tuổi cũ, mới liên tục khuynh đảo màn ảnh. Nào là Vương Vũ, Trần Tinh. Nào là Khương Đại Vệ, Địch Long, Đàm Đạo Lương...Ai cũng là cao thủ trong các bộ phim đánh đấm bạo liệt và hấp dẫn. Tôi nhớ Tết năm đó đi xem bộ phim “Lang hồ truy sát” mà phải chạy mấy rạp mới mua được vé. Xem phim chiếu Tết “Lãnh diện nhân” có tài tử Vương Vũ đóng cũng thế, cuối cùng mua được vé ngồi hàng cuối trong rạp Đại Nam, đường Trần Hưng Đạo quận nhất. 

Tưởng cũng nên bổ sung thêm tên các rạp chiếu phim ở Sài Gòn trước năm 1975, nhớ đến đâu ghi đến đó, như là Casino Đa kao, Cao Đồng Hưng, Kim Châu, Lido, Lệ Thanh, Thủ Đô, Hồng Liên, Khải Hoàn, Văn Cầm, Đại Đồng, Tự Do...và còn nhiều nữa. Nhưng riêng tôi, thập niên 70 tôi chỉ lòng vòng, lẩn quẩn ở mấy rạp trong Chợ Lớn, rạp tôi xem thường xuyên nhất là Victory Lê Ngọc (giờ đổi tên là rạp Toàn Thắng).


(27.11.2020)












Thứ Năm, 26 tháng 11, 2020

HAI ĐỨA CON TÔI

 


Sáng ra đang suy nghĩ đề tài để viết tạp bút thì trời lâm râm mưa. Giờ mưa bắt đầu nặng hạt. Không hiểu sao tôi lại chợt nhớ đến hai thằng con, nhớ da diết. Hai đứa ở không xa mấy so với quận 9. Từ ngày về đây cha con tôi ít gặp nhau. 

Sinh, con trai lớn của tôi sống với vợ và hai đứa con ở quận 6. Thịnh, con út cũng đã lập gia đình, nhà ở quận 3. Mẹ của chúng thì từ thứ hai đến thứ sáu ở quận 6 để chăm sóc cháu nội. Thứ 7, chủ nhật về quận 3. Thảng hoặc tôi mới có dịp vào quận 6 để thăm hai đứa cháu. Bé Khánh My thì còn biết tôi, Khánh Nguyên còn nhỏ, còn hai tháng nữa mới hai tuổi, ít khi gặp ông nội. 

Lúc tôi còn đi làm, các con tôi đỡ lo. Từ ngày về hưu, chúng quan tâm hơn, sợ tôi ở một mình nguy hiểm. Sau này thấy tôi quen được Huế rồi quyết định sống chung, chúng yên tâm, hàng tháng gởi tiền. Vợ chồng tôi về thuê phòng trọ ở quận 9, hai con tôi ghé chơi được mấy lần. Lần nào vợ tôi cũng nấu món để đãi. Vợ tôi được vợ chồng hai đứa con tôi quý mến, coi như người nhà. Đó cũng chính là niềm an ủi cuối đời của tôi. Tôi biết rằng, hai đứa con tôi quý người vợ này của tôi một phần do cô ấy chăm lo tôi hết mực. Mỗi tháng cô ấy xin nghỉ làm một ngày để đưa tôi đi tái khám. Bệnh tiểu đường và thận của tôi tháng nào cũng ngốn đi 5,7 triệu. Sáng thức dậy là cô ấy thử đường huyết cho tôi. Mua sẵn một máy đo huyết áp để nhà. Mọi việc trong nhà cô ấy đều dành làm hết, từ đi chợ nấu ăn, rửa chén, dọn dẹp nhà cửa, nấu nước cho tôi tắm...Hai đứa con tôi biết được, rất mừng. 

Tôi nhớ hồi năm rồi, máy vi tính của tôi bị hư, con trai lớn mua máy mới, mang từ quận 6 lên lắp ráp, cài đặt. Nó phải xin công ty nghỉ một ngày. Từ bấy đến giờ, mỗi lần xài PC là tôi lại nhớ đến con. Còn đứa con út, mới đây đã cho vợ chồng tôi cái giường hộp cũ, phải mượn súng bắn ốc của công ty về tháo ra, cột lại gọn gàng để tôi thuê xe đến chở. Vợ tôi thường nói: “Anh thật có phước, có được hai đứa con hiếu thảo”. 

Thật ra, kể sao cho hết câu chuyện cha với con, viết sao cho đủ về tình phụ tử. Chỉ biết rằng cha nay đã già, chẳng làm gì được cho con nữa. Còn con thì lúc nào cũng quan tâm đến cha, mong cha luôn mạnh khoẻ, sống đời với con cháu. 

ĐÓNG DIỄN VIÊN QUẦN CHÚNG


 Giờ ngồi nhớ lại những “vai” diễn viên quần chúng đóng trong mấy bộ phim mà tôi cứ cười một mình. Đi theo đoàn phim, có lúc đạo diễn “bắt” anh em phải làm diễn viên đi tới đi lui, ngồi họp hoặc thoại một câu gì đó. Tiền “cát sê” vẫn bằng với thuê ngoài, không đáng là bao nhưng nhiều anh em rất thích. Vài người rất bạo dạn, vào vai một cách dễ dàng, nhưng có người, như tôi chẳng hạn, tập tới tập lui thì thấy ổn, nhưng đến lúc đạo diễn hô “máy” thì lại lúng túng, tay chân thừa thải, lắp ba lắp bắp. 

Tôi nhớ phim Cô Gái Trà Peng, đạo diễn bảo phụ diễn với cô diễn viên chính, đứng ở bờ sông chờ “phái đoàn” của Uỷ ban xã đến để tiễn người. Cô diễn viên chính sẽ thoại một câu:

  • Sao lâu quá không thấy ai vậy? 

Tôi quay nhìn lại, chợt thấy nhóm người đang đến nên nói lớn:

  • Kìa, họ đến rồi kìa. 

Rồi tôi và cô diễn viên chính nhìn nhau cười. Chỉ đơn giản vậy thôi nhưng không hiểu vì sao nhìn ánh mắt cô tôi lại bị khớp. Đạo diễn la lên:

  • Trời, sao mày không cười, Sĩ?

Quay đến lần thứ ba đạo diễn mới tạm hài lòng. Ông nói với cô diễn viên chính:

  • Thằng Sĩ nó bị em hớp hồn rồi. 

Cả đoàn được dịp cười “xả stress”. 

Trong bộ phim “Vết nhơ không dấu”, bối cảnh là toilet, hai nhân vật nam đang trò chuyện, tôi đóng vai kẻ rình mò đứng phía ngoài. Đạo diễn hô vang “Máy. Diễn xuất”. Một cô gái từ toilet nữ bước ra (cô này cũng là nhân viên đoàn phim). Bất ngờ chạm mặt cô, tôi thụt lùi, mồm há hốc. Đúng theo ý đạo diễn thì tôi chỉ hơi khựng lại là chuyển cảnh, nhưng tôi diễn quá cường điệu. Có lẽ thấy cảnh này không quan trọng nên đạo diễn cho qua. Off máy, anh quay phim nói:

  • Anh Sĩ diễn hay quá, cho lên vai chính luôn. 

Tôi cũng ráng cười với anh em chứ trong lòng “quê một cục”. 

Đến bộ phim “Đằng sau một số phận” quay trên Đà Lạt, tôi hết hồn khi được đạo diễn Lê Hoàng Hoa mời đóng vai chính phản diện, do diễn viên Tư Lê bệnh nằm bệnh viện ở Sài Gòn không theo đoàn được. Đó là vai Liu Bang Min, một điệp viên Trung Quốc. Bữa đó tôi đang ngồi tám chuyện thì Chi, hoá trang chính của đoàn đến:

  • Anh Sĩ lại đây em hoá trang cho nè.

Tôi ngạc nhiên:

  • Ủa, hoá trang gì em?

Chi xịu mặt:

  • Nhanh lên đi, em còn làm cho người khác nữa đó.

Đạo diễn đứng gần đó, nghe chuyện liền bảo tôi:

  • Anh quyết định để em đóng thế Tư Lê luôn. Em có nhiều nét giống nó lắm. 

Tôi lắp bắp:

  • Em đóng không được đâu anh Hoa ơi.
  • Em không tin anh sao?
  • Không phải, nhưng em không biết diễn xuất đâu, sợ làm anh thất vọng. 

Đạo diễn bỏ đi, lo chỉ đạo diễn viên. Tôi ngồi thờ thẩn, cảm thấy thật ái ngại. Đúng ra anh Lê Hoàng Hoa là đạo diễn thiên tài, đã giúp cho nhiều người từ chỗ không biết gì về điện ảnh trở thành diễn viên có tên tuổi. Nhưng tôi vốn là kẻ rất nhát đèn, khó lòng đóng một vai quần chúng cho ra hồn, huống chi phải đảm nhận một vai thứ, chính. Nhớ lại trước đó vài năm, đạo diễn Xuân Hoàng cũng đã từng “chấm” tôi cho vai chính của một bộ phim ngắn và tôi đã từ chối. Sau này Xuân Hoàng đã làm bộ phim “Vị đắng tình yêu”, trở thành đạo diễn nổi tiếng. Tôi không nhận đóng phim ngắn ấy, anh Xuân Hoàng đã tìm được người thay thế, đó là diễn viên Lê Công Tuấn Anh. 

Từ ngày tôi từ chối đạo diễn Lê Hoàng Hoa, tự nhiên bị “mất duyên” luôn, không thấy ai mời mọc gì nữa. Thật ra tôi có một bí mật khó chia sẽ về lý do không muốn đóng phim, giờ già rồi, nói ra cũng không sao. Đó là tướng đi của tôi. Thời trẻ thì bước đi hay bị nghiêng bên phải, lúc già thì đi “ba xiên ba nai”. Tôi không mặc cảm vì chuyện đi đứng của mình nhưng không lẽ lên phim, đạo diễn cứ quay né hoài sao được. Hồi nhỏ tôi đã từng được xem một bộ phim mà anh diễn viên chính có tướng đi rất xấu, ai xem cũng cười cợt, phê bình. Chắc có lẽ vì vậy mà tôi sợ. 

Viết đến đây bỗng dưng tôi nhớ đến một người. Năm đó tôi không đi làm phim nữa mà chuyển về làm phòng kinh doanh. Một hôm anh bảo vệ điện cho tôi bảo có người quen muốn gặp, hỏi tôi có muốn tiếp không? Tôi nói cứ cho người ấy lên. Đó là một cô gái trẻ đẹp, nhỏ nhắn trong bộ đồ quần tây, sơ mi trắng. Tôi mời cô ngồi, chưa kịp hỏi thì cô đã nói:

  • Em tên MD. Chị P chủ tiệm cho thuê băng video giới thiệu anh với em, bảo anh có thể giúp em đóng phim. Anh là anh Sĩ phải không ạ?
  • Đúng rồi, anh tên Sĩ. Em có học trường lớp gì bên điện ảnh không?
  • Dạ không ạ. Em đang làm công ty bảo hiểm xã hội. Em rất thích được đóng phim. 
  • Anh không phụ trách việc này em à. Chuyện này do các đoàn phim tự quyết định, cụ thể là đạo diễn phim. 
  • Anh có thể giới thiệu em không? 
  • Cũng được, để anh xem có đoàn nào đang quay, cần diễn viên quần chúng sẽ báo với em. 

Tôi cũng rảnh nên tiếp MD được lâu, lấy mấy cuốn album hình ảnh đoàn phim cho MD xem, cô rất thích. Vài hôm sau MD lại đến, làm hẳn một bản sơ yếu lý lịch đưa cho tôi. Nhìn vẻ thật thà đến ngây thơ của MD mà tôi cảm thấy ngại cho cô. Môi trường điện ảnh rất phức tạp, không phải toàn màu hồng như MD nhận xét. 

Hỏi các đoàn phim đang quay, chưa có đoàn nào cần diễn viên quần chúng. Tôi định giới thiệu MD cho một đoàn phim quay karaoke, ca nhạc, nhưng thấy đạo diễn là tay “dê xồm” nổi tiếng nên thôi. 

Đến tiệm thuê băng, cô chủ P hỏi tôi:

  • Em có giới thiệu anh cho nhỏ nhân viên thích phim ảnh, nó đến gặp anh chưa?
  • Rồi em. Nhưng chưa có phim nào cho cô ấy đóng. 
  • Kệ đi, từ từ cũng được mà. Nhỏ đó cũng bốc đồng vậy thôi. 

Chuyện MD đóng phim cũng chẳng đi đến đâu. Cô bé cũng ít ghé công ty gặp tôi. Một hôm đến thuê băng, cô chủ P trao cho tôi quyển lịch phong cảnh nói là của MD gởi tặng. P bảo cô ấy đã nghỉ công ty bảo hiểm xã hội, chuyển sang một công ty khác. 


(26.11.2020)

Thứ Tư, 25 tháng 11, 2020

CHỌN CẢNH


 Có đi làm phim mới thấy các đạo diễn chọn và xử lý bối cảnh rất tài tình, nhất là những cảnh toàn. Phim mang tính lịch sử, đi tìm nơi phù hợp để quay đã vô cùng khó khăn, chỉ đạo thiết kế theo nội dung kịch bản càng khó gấp bội. 

Các dạng phim của nhà văn Hồ biểu Chánh, về phương diện tái tạo bối cảnh luôn là một thách thức cho tổ chế tác, nhất là ngoại cảnh. Câu chuyện xảy ra trong thập niên 30, 40 giờ biết tìm đâu căn nhà, con đường làng, chợ búa...cho phù hợp với tiểu thuyết, kịch bản. 

Yếu tố giảm giá thành cho một bộ phim là phải quay cụm điểm. Đạo diễn không thể tuỳ hứng quay tỉnh này vài cảnh, tỉnh khác vài phân đoạn. Kế hoạch toàn trình một bộ phim luôn chỉ rõ đâu là bối cảnh chính, đâu là phụ. Thời gian quay đã được định trước, không thể tuỳ tiện kéo dài. 

Có khi trong nội dung bộ phim lại chỉ có vài cảnh ở một địa phương nào đó, có thể quay một buổi là xong. Ví dụ như cảnh đôi nam nữ đi dạo trong rừng thông Đà Lạt, đạo diễn có thể chọn khu Con Nai Vàng ở Thủ Đức để thay thế, tạo khói để giả sương mù. Hoặc như cảnh con thuyền, bến nước ở miền Tây có thể được quay ở quận 9, nơi có con kênh, rặng dừa, nếu cần thì trang trí thêm cái lu, cạnh bên vắt chiếc gàu múc nước. Lên phim khán giả mà biết ở quận 9 là chết liền. 

Tuy nhiên, đã gọi là bối cảnh thay thế thì không thể quay toàn, cùng lắm chỉ được trung cảnh. Trong phim Ván Bài Lật Ngữa, có cảnh tấn công đồn địch trên cao nguyên, đạo diễn Lê Hoàng Hoa đã chọn Thủ Đức. Ông đúng là có biệt tài quay cận ảnh và đặc tả. Những bước chân hành quân. Chiếc nón sắt lăn lóc trên vùng lau sậy. Khói lửa mù mịt phía sau. Cảnh đánh giáp lá cà. Tất cả hoà quyện cùng âm thanh, tiếng động đã làm tăng cảm xúc chiến tranh, khiến khán giả bị cuốn hút theo mạch phim, hồi hộp theo từng plan ảnh. Đó cũng là cách quay cổ điển để tạo hiệu quả đặc biệt, nhất là trong các bộ phim võ thuật Hồng Kông. 



Phim hiện đại ít tạo áp lực về bối cảnh cho các đạo diễn. Phim tình cảm, quay ở đâu miễn thơ mộng là được. Phim kinh dị, các địa danh càng hư cấu càng tốt. Trong bộ phim Hai Phượng của Ngô Thanh Vân, bối cảnh phim theo kịch bản là Vĩnh Long, Trà Vinh nhưng thật ra phim lại được quay ở...Sa Đéc. Ngoại cảnh phim là toàn bộ một khu chợ ở Sa Đéc, thiết kế lại theo miêu tả của kịch bản. Trong phim có một số cảnh chợ nổi thì được quay tại chợ nổi Cái Răng - thành phố Cần Thơ.

Có nhiều cảnh không thể quay thật tại nơi xảy ra câu chuyện, ví dụ cảnh đánh đấm, vật lộn dưới biển trong phim Ván Bài Lật Ngữa giữa Nguyễn Thành Luân và tên người nhái, phải “dời” vào quay trong hồ bơi An Đông, do chính đạo diễn ôm máy quay dưới nước. Hiệu quả trên phim vẫn là hai nhân vật đang quần thảo dưới biển. 

Nhiều bộ phim, kịch bản đã mặc định địa điểm quay, như bộ phim Người Không Mang Súng của tác giả Văn Thảo Nguyên, địa danh chính là nơi người dân tộc K’Hor sinh sống. Đoàn phim phải vào tận buôn Đinh Trang Thượng, cách huyện Di Linh - Lâm Đồng 40 kí lô mét đường đèo. Chỉ nơi đó mới có núi rừng, suối sâu, bản làng với những căn nhà sàn không lẫn với chỗ nào khác. Phim chiến tranh của đạo diễn Hồng Sến, ông thường đem bầu đàn thê tử về Mộc Hoá -Long An để quay, như các phim Cánh Đồng Hoang, Mùa Nước Nổi. Mộc Hoá chính là căn cứ kháng chiến của ông thời chống Mỹ. 

Thành công của một bộ phim có phần đóng góp khiêm tốn của bối cảnh quay. Nhưng đôi khi do câu chuyện hấp dẫn, mạch phim liền lạc cộng với tài năng diễn xuất của diễn viên khiến khán giả quên, không để ý đến địa danh, vùng miền nữa. Dù sao cũng phải khen ngợi các đạo diễn đã cố công đi chọn cảnh, tìm là được, chưa từng bó tay. 


(25.11.2020)


Thứ Ba, 24 tháng 11, 2020

GIỖ ĐẦU CỦA NỘI

 


* Ảnh: NGUYỄN THU

Bà ở với chú Út, cách mẹ chừng 500 mét, từ đường cái vào hẻm bê ltông, qua vài căn nhà là tới. Mỗi lần vợ chồng tôi ở Sài Gòn về, qua sáng hôm sau đều ghé thăm bà. Bà hay ngồi trên chiếc ghế xếp ở phòng khách, cây gậy để kế bên, sát góc tường. 97 tuổi, bà vẫn tự mình tắm, đi vệ sinh, không muốn làm phiền đến ai. 

Bà kể những năm tám mươi mấy tuổi, chủ nhật nào bà cũng đi bộ đến Nhà thờ dự Thánh lễ. Đi về cũng mất khoảng 4 cây số. Bà thuộc kinh Thánh làu làu. Các đời linh mục Chánh xứ bà đều biết hết. Tôi nhớ giỗ đầu của bố, chú Út chở bà bằng xe máy đến. Tôi chạy ra đỡ, bà chống gậy xuống, khoát tay:

  • Để bà xuống từ từ. 

Lúc đọc kinh trước bàn thờ bố, bà cũng lẩm nhẩm theo, không hề vấp váp. Bà vẫn ra ngồi bàn, không ăn gì nhưng chòm xóm ai cũng đến hỏi thăm rộn rịp. Con cháu vây quanh bà, mấy đứa nhỏ ngồi vào lòng bà. Bà ít cười nhưng mỗi khi cười luôn rạng rỡ. 

Tết đến, bà thay đồ mới ngồi ngóng ra ngoài ngõ, chờ con cháu đến. Cả nhà chúng tôi gồm mẹ, vợ chồng anh Hai, vợ chồng tôi, vợ chồng mấy đứa em cùng mấy đứa cháu xúng xính trong những bộ quần áo mới, tung tăng nửa cây số đến nhà bà, vừa đi vừa selfie, chụp nhiều pô hình kỷ niệm. 

Cả nhà tôi quây quần bên bà, chụp ảnh và trò chuyện cùng bà, chúc bà mạnh khỏe sống lâu. Mấy đứa nhỏ chạy giỡn khắp nhà. Không khí rộn ràng, hạnh phúc. Rồi bà lì xì cho từng đứa cháu, đứa lớn đứa nhỏ đều được những phong bao màu đỏ thắm. 

Mỗi lần tôi ghé bà đều hỏi thăm:

  • Má con có khỏe không?
  • Dạ má con cũng khỏe.
  • Má con giỏi thiệt, sinh mười mấy đứa con mà chín mươi mấy tuổi rồi vẫn khỏe. 

Bà nhớ nhiều chuyện xưa, kể lại vanh vách. Có lúc ai đó nói tên người ở xóm trên sai, bà liền sửa lại khiến mọi người phục lăn. Vợ tôi hay mua sữa cho bà nhưng bà uống rất ít nên lâu hết. Có khi ba bốn ngày bà không ăn gì khiến chúng tôi ai cũng lo lắng. Nhưng rất ít khi bà chịu đi khám bệnh. Bà bảo “Không sao đâu, vài bữa là hết hà”. Mà quả vậy, bà hết bệnh, ăn lại được, cả nhà ai cũng mừng, tạ ơn Chúa. 

Mấy đứa cháu thỉnh thoảng cho tiền, bà để dành mua thuốc tây, mua sữa. Biết được đứa nào khổ quá, bà cho tiền. Lâu lâu không thấy mẹ tôi ghé, bà nhắn mấy đứa cháu:

  • Kêu mẹ Chung mai đến gặp bà nhé.

Mẹ Chung là cách bà gọi mẹ vợ tôi. Qua hôm sau mẹ ghé, bà dấm dúi cho vài trăm, bảo “Cất đó mà xài”. Mẹ cũng hay ghé bà nhưng có khi bận rộn quá không thăm được là bà nhắc ngay. Thỉnh thoảng mẹ tôi lại đến tắm cho bà, giặt giũ chăn mền sạch sẽ. Mẹ và bà có nhiều chuyện nói với nhau lắm, kể cả buổi không hết. 

Bà có nhiều cháu nhưng chỉ có một cháu nội đích tôn, đó là Mùi, con của chú Út nên thương lắm. Mùi cũng sống rất tình cảm, đi làm ở Biên Hoà mà nghe tin bà nội gặp chuyện là tức tốc về ngay. Biên Hoà - Gia Canh mà Mùi chạy xe máy, “đua” chỉ trong một tiếng đồng hồ là về đến, một quãng thời gian gần như không tưởng. Lần cuối cùng Mùi nói chuyện với bà là hồi năm rồi. Lúc Mùi từ giã bà để đi Biên Hoà làm lại, bà nắm chặt tay Mùi, nói:

  • Con đừng đi. Ở lại với bà. 

Vài hôm sau bà mất. Mùi khóc hết nước mắt, lòng hối hận, day dứt mãi không thôi.

Mười sáu tháng mười âm lịch tới đây là giỗ đầu của bà. Nhà chú làm sớm hơn một ngày, nhằm chúa nhật để con cháu có thể về đông đủ. 


(24.11.2020)







Chủ Nhật, 22 tháng 11, 2020

BUỔI SÁNG THỨ 18.980


 Buổi sáng ở một vùng quê êm đềm và bình lặng. Cốc trà Bảo Lộc thơm nhẹ, vị ngọt đắng còn đọng trên đầu môi. Đường vắng. 

Tự dưng tôi có cảm giác đã từng trãi qua một buổi sáng như thế này trong quá khứ. 52 năm rồi. Nửa thế kỷ rồi chứ ít gì. Trong ngôi nhà ba gian rộng lớn, tôi lẩn quẩn, đi tới đi lui, chờ gói xôi mặn của bà chị. Xôi chỉ gồm nếp với tôm khô, mỡ hành nhưng ngọt dẻo, mặn mà hơn bất cứ gói xôi nào khác. Mấy mươi năm trôi qua rồi, chừng như tôi sống chỉ để chờ gói xôi như thế. 

Còn một thứ nữa chắc cũng không bao giờ gặp lại được. Cái “bánh ướt” to tướng ấy, một đồng một cái, mua đem về cuốn với tép mỡ thịt chấm nước tương. Thật ra đó không phải là bánh ướt mà là bánh bột tráng trên cái khung vải tròn làm nồi, cái vung bằng thiếc hình phễu làm nắp, đặt trên lò đốt bằng than trấu. Bánh tráng xong đem phơi khô, cắt ra thành sợi hủ tíu. Đó là công đoạn làm hủ tíu dai. Tôi vào lò, người thợ đổ bánh đã quen mặt, không nói gì. Cái nắp vung to được giở lên, cái bánh tròn đều, trắng mịn vừa chín tới. Người thợ dùng chiếc đủa que cuốn chiếc bánh, bỏ vào miếng lá chuối gói lại, giao hàng. Tôi trả 1 đồng tiền xu, hí hửng ôm gói lá chuối đi về. Hình như không thấy ai mua bánh giống tôi. Chủ yếu, lò sản xuất hủ tíu khô bỏ mối. Trước sân nhà rộng, người ta phơi bánh trong những cái nia to, bày thành nhiều giàn cao đến ngang bụng. Ở nhà, chị tôi đã thắng sẵn tép mỡ thịt bỏ trong keo. Gói lá chuối được mở ra, bánh còn nóng hổi. Chúng tôi xé bánh, cuốn tép mỡ, chấm vào chén nước tương ớt. Cắn vào một miếng, dai dai giòn giòn, mặn mặn cay cay, ngon khó tả. 

Đó là buổi sáng của 52 năm trước mà hương vị món ăn còn lắng đọng cho đến bây giờ. Nhiều người bảo rằng miệng lưỡi trẻ thơ ăn uống thứ gì cũng ngon nên ta có cảm giác cũng là món ăn đó nhưng bây giờ không còn ngon nữa. Thật ra không phải vậy. Rõ ràng là ngày xưa vẫn ngon hơn. Bây giờ người ta bỏ vào nhiều loại hoá chất này nọ, vừa làm mất đi vị ngon nguyên thủy, vừa có hại cho sức khỏe. Những tiệm như phở Tàu bay, phở Dậu biết bao năm rồi vẫn đông khách là do hương vị không thay đổi, không thêm bớt gia vị, không có bất cứ hoá chất nào. 

52 năm với bao thăng trầm của một kiếp người. Gần 19 ngàn buổi sáng. Và cái buổi sáng ngày xưa ấy như mới vừa đây, an yên nhàn nhã. Trong một không gian khác, một thời điểm khác, những con người khác, dáng vẻ của buổi sáng vẫn như xưa. Có khác chăng chính là nỗi chờ đợi của tôi. Tôi mong ngóng thằng bé mười ba tuổi đang trên đường đi mua “bánh ướt” ở lò hủ tíu gần chợ Mới. Thằng bé vừa đi vừa hồn nhiên nhảy chân sáo. 

Thoắt một cái, thằng bé đã nhảy 18.980 bước. Thật kỳ diệu, thằng bé đã trở thành người đàn ông đứng tuổi. Xôi mặn và bánh ướt tép mỡ thịt của tôi đâu rồi? Trong khi vẫn là buổi sáng ấy...


(22.11.2020)



Thứ Sáu, 20 tháng 11, 2020

I LOVE MILANO


 Em trai tôi bên Canada vừa gởi vô nhóm chat gia đình bài hát I love Milano do ca sĩ Ý Nhi trình bày. Ý Nhi là cô ca sĩ Việt ở bên Nhật nổi tiếng một thời ở hải ngoại. Hình như bài hát nhạc ngoại lời Việt này có từ thập niên 80. Giai điệu du dương, lời hát trữ tình khiến tôi cứ bấm đi bấm lại, nghe mãi, hồn chìm đắm, dần trôi về ký ức xa xưa mơ hồ như làn sương mỏng. Sáng nay trời âm u không nắng. Và thời gian chừng ngưng đọng. 

Âm nhạc thật kỳ diệu. Dù là ai, trong bất cứ hoàn cảnh nào, nghe một tấu khúc ru lòng, nỗi buồn mang mang lại đến. 

“Đêm nao dìu em đi dưới ánh trăng mờ buông

Bên nhau nhạc lòng tấu muôn ngàn khúc yêu đương

Đêm nao tình dâng ái ân mở lối thiên đường

bàn tay nâng đan gối mộng

bờ môi thơm như đóa hồng

làn tóc ngát hương trời đông”

(Dạ Khúc Cuối - Hoàng thanh Tâm)

Năm đó tôi bắt đầu nghe nhạc giao hưởng, là các tác phẩm lớn trong nền âm nhạc cổ điển phương Tây. Một tác phẩm thường có nhiều chương riêng biệt. Bản giao hưởng thường được ghi ở dạng tổng phổ, tức là bản nhạc với tất cả các phần của tất cả nhạc cụ. Các nhạc công chơi trong dàn nhạc thì chỉ cần bản nhạc cho phần nhạc cụ của riêng họ. Nửa khuya, ôm chiếc radio, nghe cô phát thanh viên giới thiệu đoản khúc hoà tấu gì đó mà tôi đã quên tên, đoạn mở đầu là “thời kỳ nô lệ”, đoạn giữa là “vùng dậy” và đoạn kết là “tự do”. Tôi nghe, cảm nhận được sự nặng nề, nghẹt thở của cả một giai đoạn áp bức, sự phấn chấn của cao trào nổi dậy và một cõi bình yên đến ứa lệ, ngân vang mãi khúc trường ca bất tử. Những người đã nghe và am hiểu loại nhạc giao hưởng sẽ không cần nghe đoạn giới thiệu này của cô phát thanh viên. Tôi thì khác. Cần và rất cần, như người ngoại đạo lại rất tin vào Chúa. 

Rồi cuộc sống rày đây mai đó đã làm tôi rời xa dòng nhạc ấy. Thời chưa có smartphone, muốn tiếp cận với âm nhạc đã khó, nói gì đến nhạc giao hưởng, thính phòng. 

Bài hát I love Milano, không hiểu sao lại mang đến cho tôi cảm xúc như vừa nghe một đoạn nhạc giao hưởng. Phải chăng vì nó đã quá cũ xưa? Chắc không đâu, vì âm nhạc luôn lướt qua khái niệm thời gian. Hay là lời bài hát, vì nội dung cũng gồm các giai đoạn: gặp gỡ, yêu thương và chia biệt? Không, bài hát down về, phần nhạc to hơn phần lời khiến tôi đâu nghe rõ. Phải nghe đến bốn, năm lần tôi mới chép lại được mấy câu:

“Nói với ai đây câu ân tình

Nước mắt rơi nhanh cho riêng mình

Người tôi yêu nay đã về cuối chân trời

Và quanh đây lá rơi đầy sân”

Thôi, tôi hiểu rồi. Bất cứ bài hát nào cũng có thể là giao hưởng với cảm thụ âm nhạc của riêng ta. Sự tài hoa của nhạc sĩ sẽ nâng tầm cho các cảm xúc thăng hoa, gần gũi nhau hơn giữa những người thưởng thức. 

(20.11.2020)

Thứ Năm, 19 tháng 11, 2020

NHỮNG CHẬU HOA TẾT


 Còn ba tháng nữa là Tết rồi. Mùa Covid cũng sắp tròn một năm với bao đổi thay biến động, không biết đâu mà lần. Năm nay cả nước ăn Tết trên tinh thần cảnh giác, không chủ quan vì đại dịch vẫn đang tiếp tục hoành hành khắp thế giới. 

Tết này vợ chồng tôi sẽ về nhà Bến Tre để thắp nhang cho ba má, sẽ vô chùa Bạch Vân, nơi để hủ cốt của ba má. Cuối cùng ba má cũng được đoàn tụ nơi thiên đường. Nhà má giờ chỉ còn đứa em gái thứ chín ở, nhưng nó cũng thường xuyên lên Sài Gòn để chăm cháu ngoại. Chúng tôi chỉ về để cúng giỗ ba, giỗ má rồi đi. Căn nhà vẫn nguyên trạng, cũng máy lạnh, tủ lạnh, máy giặt...cũng tủ, giường, salon, đi-văng, bàn ăn, kệ bếp...nhưng giờ hiu quạnh lắm. Kể từ ngày má ra đi, nhà đã trở nên trống vắng, đìu hiu. 

Ngày má còn sống, Tết nào tôi cũng về Bến tre đi chợ hoa để mua về nào là vạn thọ, cúc, hoa hồng...nào là mào gà, phụng vỹ. Chợ hoa nằm dọc từ cầu Cái cối đến cầu Hàm luông. Em trai út tôi ở Canada về cũng thích mua hoa Tết. Sân nhà má không rộng lắm nhưng cũng đủ bày biện các chậu hoa hai bên, đủ màu sắc. Má tôi rất thích hoa, thường bắc ghế ngồi ngoài sân để chụp hình và ngắm. Khi đôi chân má yếu không đi được nữa, em trai tôi bồng má ra ngồi ghế salon, hoan hỉ nhìn những chậu hoa tươi thắm. 

Điều tôi cảm thấy mãn nguyện nhất chính là đã đưa vợ chồng hai đứa con tôi về thăm bà nội của chúng, nhất là vào dịp Tết. Dù sao con cháu của tôi cũng còn biết được cội nguồn. Lúc má nằm viện chúng cũng về thăm. Chúng cũng yêu quý bà như yêu quý ba của mình vậy, dù ít được gần gũi. 

Từ ngày về với tôi, Tết năm nào vợ tôi cũng cùng tôi về thăm má. Vợ tôi bắt đầu được nghỉ ngày 26 Tết. Vợ chồng đèo nhau bằng xe máy từ quận 9 vào quận 5, ngay trạm xe Minh Tâm, gửi xe bên bệnh viện 30/4 rồi bước qua mua vé. Chuyến xe đưa chúng tôi vào cao tốc Trung lương, Mỹ tho rồi cầu Rạch miễu. Những hàng dừa xanh lả lơi trong gió. Những hàng quán chuyên bán kẹo dừa, đặc sản Bến tre rộng mở, gọi mời khách thập phương. Xe cộ đông vui ngày Tết. 

Vợ tôi cũng rất thích đi chợ hoa, cùng chị tôi và em trai út tôi “thưởng ngoạn” từ chiều đến tối. Cuối cùng chúng tôi cũng mua được mấy chậu vạn thọ, cúc, mào gà, phụng vỹ. Chờ khoảng hơn nửa tiếng mới gọi được chiếc xe lôi. Tôi được cắt cử đi về nhà cùng những chậu hoa, vợ cùng chị em tôi đi bộ. Đường hoa, đường phố đông vui quá khiến lòng người thêm nao nức.

Tết năm nay không còn đi dạo chợ hoa, không còn mua hoa nữa rồi. Vợ chồng tôi sẽ về thắp nhang cho ba má rồi đi, không ngủ đêm. Mà cũng không biết em gái tôi sẽ về bữa nào. Sao cũng được, miễn đừng là chiều 30 Tết vì ngày đó chúng tôi phải về Định quán. 

Dù vẫn biết không có gì là vĩnh cửu, là trường tồn mãi mãi, nhưng mỗi khi về thăm má, tôi chưa bao giờ nghĩ một ngày kia tất cả sẽ thay đổi. Nhiều cái Tết sẽ trôi qua, cái Tết mới lại đến. Má sẽ vẫn nằm đó trên chiếc giường quen thuộc, đôi mắt tinh anh nhìn con, môi như hé nở nụ cười. Con hiểu má muốn nói gì. Có phải trong lòng má cũng đang rạo rực niềm vui. Có phải má đang lắng nghe Tết về, lắng tiếng bước chân từng đứa con vang vang ngoài đầu ngõ. Có phải má muốn nói với con: “Tết rồi phải không con? Thằng út sắp về tới rồi phải không? Nhà mình sắm những chậu hoa mới chưa? Má muốn ra ngồi xem thử”.


(19.11.2020)














Thứ Tư, 18 tháng 11, 2020

GIẬN HỜN

 


Hờn dỗi, động từ tiếng Anh là “sulk”. Do you see her sulking about it? - Anh có biết cô ta giận dỗi chuyện gì không? Ở đây tôi chỉ muốn đề cập đến sự giận hờn hơn là sự tức giận, giận dữ. Danh từ “giận hờn” dùng để chỉ sự việc hai người vốn thân thiết không bằng lòng nhau về chuyện gì đó trong một thời gian ngắn. 

Sự giận dỗi thường dễ xảy ra, ở đâu cũng có. Chị giận em, vợ giận chồng, mẹ giận con...Có người, lúc đối đế lắm mới giận, nhưng lại có người “hở một chút là giận”. Có người giận một lát rồi thôi, nhưng cũng có người “giận dai như đĩa”. Tệ nhất có lẽ là sự giận dỗi do hiểu lầm. Đó là chuyện không đáng. Đến khi hiểu ra, biết rằng mình sai nhưng vì sĩ diện nên không xin lỗi, cứ để “bất chiến tự nhiên thành”, ngồi chờ cơ hội làm lành với đối phương. Sự đời là vậy, ít ai chịu nhận mình sai lắm. 

Thông thường, người đứng giữa cố gắng dàn hoà cho đôi bên lại bất lực, khó nói một câu gì khả dĩ “lọt lỗ tai”, có khi còn bị giận lây vì cho rằng không cùng phe cánh. Người im lặng không thèm quan tâm, người dùng dằng bỏ đi. Câu chuyện càng lâm vào bế tắc. 

Có khi một buổi, một ngày đến vài hôm nỗi giận hờn tan đi, người ta trở lại bình thường, nói chuyện lại như cũ coi như không có gì xảy ra. Người “bị giận” có thể xí xoá ngay nhưng có người còn ấm ức, chỉ nói vài câu nhát gừng rồi từ từ mới chịu bỏ qua. Giận hờn thôi mà, chứ đâu phải thù oán. 

Nói thế nhưng trong câu chuyện sắp kể của tôi, sự giận dỗi lại sớm chuyển biến thành nỗi hận. Năm học đó, một hôm tôi thấy tuần báo Quê Hương có đăng truyện ngắn của cô bạn, liền mua một cuốn tặng cô. Qua hôm sau cô ấy lại tặng tôi một cuốn khác kèm theo mảnh thư “Tặng lại Sĩ để làm kỷ niệm vì Sĩ tặng Hương cuốn đó thì trong bộ sưu tập sẽ thiếu đi một cuốn”. Chỉ thế thôi nhưng không hiểu sao tôi lại cảm thấy sợ. Có một nỗi lo lắng mơ hồ cứ chiếm lấy tôi. Tôi nghĩ Hương đã thích mình. Không, tôi hoàn toàn không muốn tình yêu đến quá sớm. Vậy nên tôi làm mặt giận, không thèm nói chuyện với Hương nữa. Hơn nửa khoá học còn lại của năm Đệ ngũ (lớp 8) đó, tôi chủ động “cắt đứt” quan hệ với Hương. Buổi học cuối cùng, cả lớp ăn chè với thầy để chia tay, Hương mang chè cho các bạn, đi ngang qua tôi, Hương nói trỏng:

  • Muốn ăn thì tự lên mà lấy.

Hương đã hận tôi chứ không còn là giận dỗi. Năm học sau tôi chuyển trường và hai đứa tôi không còn gặp lại. 

Thật ra trong tự điển cuộc đời tôi không hề có chữ “giận”. Tôi chưa bao giờ biết giận hờn ai cả và khi “bị giận” thì trong dạ cứ cồn cào, bứt rứt không yên. Càng về già tôi càng cố tránh bớt những lời nói, hành vi có thể khiến người khác giận hờn. Những người thân quanh tôi cũng thế, tôi nhận thấy họ ngày càng bớt đi những dỗi hờn, có cớ hay vô duyên cớ. Hình như ai cũng ý thức rằng: đời đã nhiều cơ khổ, hà tất phải tự mình tạo ra thêm. 

Có mấy lời trong bài hát “Hờn anh giận em” của nhạc sĩ Tuấn Lê, càng nghe càng thấm thía:

“Yêu nhau mới hay hờn dỗi

Dỗi như gia vị cuộc đời

Bà con cô bác có chê hay cười đành chịu vậy thôi...”.


(18.11.2020)


TRƯỚC GIỜ CÁCH LY

 


Tôi ở khu nhà trọ này cũng hơn hai năm rồi. Có cô bé phòng kế bên lúc nào cũng đóng cửa, cũng ít thấy ra ngoài trừ khi đi làm hay phơi đồ, lấy đồ. Có lần tôi đến trước phòng cô xem thử có khoá không để biết cô đang ở nhà hay đi làm, bất chợt cửa sịt mở khiến tôi giật mình. Thì ra cô bé mang quần áo ra ngoài phơi. Tôi nghĩ: “Sao con nhỏ này suốt ngày ở trong căn phòng kín cửa hay vậy”.

Thời gian gần đây cô bé vẫn thế, cả ngày cứ đóng cửa phòng kín mít. Nhưng nhìn qua nhìn lại những căn phòng khác giờ thấy cũng vậy. Nhiều người khi đi làm về là chui vô phòng đóng cửa. Ai cũng sợ virus Corona lây nhiễm. 

Khu phố trọ tôi ở có trên 50 phòng cho thuê. Trước đây mỗi khi chiều về là khách khứa của các hộ đến chơi, để xe máy gần như không có chỗ xoay trở. Giờ thì khác nhiều, không có một mống khách. Vừa rồi nhận giấy báo tiền trọ tháng 4, tôi thấy bà chủ cẩn thận ghi thêm mấy dòng:”Xin các hộ lúc đóng tiền nhớ mang khẩu trang để phòng dịch”. 

Vợ tôi nói chiều nay chắc về trễ vì phải ghé siêu thị mua đồ tích trữ. Nhà nước vừa ra chỉ thị cách ly toàn xã hội từ 0 giờ ngày 1 tháng 4 đến ngày 15 tháng 4. Nói gì thì nói chứ cũng phải mua ít đồ ăn thức uống để dành cho 15 ngày. Hy vọng siêu thị không bị gom hàng. Tâm lý người Việt mình là thế, mới nghe phong thanh là đã cuống cả lên. Vừa rồi giá xăng giảm còn gần 12 ngàn một lít, nghe tin đồn bán vài bữa rồi ngưng, nhiều người đã mua về trữ. Thật là nguy hiểm làm sao! 

Vợ tôi vừa về đến, cho tôi thông tin mới:”Siêu thị đông nghẹt khách xếp hàng. Em sợ lây lan nên mua tạm thịt heo và rau củ ở ngoài”. 

Thôi cũng đành, tới đâu tính tới đó. Giờ cứ nghe theo ông Nhà nước cho chắc ăn.


(31/3/2020)

TƯỞNG NHỚ MỘT NGƯỜI ANH


Làm chung một Hãng nhưng mãi đến sau này tôi mới quen với anh Lê Hữu Lương. Thời đó Hãng phim Giải phóng đông nhân viên lắm. Từ những đạo diễn “cây đa cây đề” như Hồng Sến, Huy Thành, Lê Hoàng Hoa, Bùi Sơn Duân..., những nhà quay phim gạo cội như Lê Đình Ấn, Trần Ngọc Huỳnh, Đường Tuấn Ba, Nguyễn Hoè...cho đến các phó, trợ lý, tổ trưởng các bộ phận của một đoàn phim, không sao nhớ hết. 

Tôi biết anh Lê Hữu Lương khi tình cờ đọc được truyện ngắn “Ông giám đốc” của anh đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng, văn phong súc tích, bố cục gọn gàng, khiến tôi đặc biệt chú ý, sau mới phát hiện ra anh làm cùng công ty với mình. Lúc đó Hãng phim Giải phóng còn tên gọi là Xí nghiệp phim tổng hợp. Gọi là “tổng hợp” vì ngoài phim truyện ra, Hãng còn làm phim tài liệu và hoạt hình. 

Nói cho dễ hiểu là anh Lê Hữu Lương thuộc “thế hệ thứ hai” trong Hãng, cùng trang lứa với các anh Đào Bá Sơn, Nguyễn Vinh Sơn, Hồ Ngọc Xum, Xuân Cường...đi theo các đàn anh làm trợ lý rồi làm phó. Tài năng của các anh bộc lộ rất sớm nên đã nhanh chóng được “lên phó” ngay. Đúng là những người đã qua trường lớp có khác, các anh đã tự khẳng định mình trong môi trường khắc nghiệt, nghệ thuật thứ bảy, mỗi người mang một phong cách riêng. Có lẽ đạo diễn Lê Hữu Lương thích hợp với thể loại phim tâm lý xã hội. Nếu tôi nhớ không lầm thì phim đầu tay của anh là “Có Một Tình Yêu Như Thế”- phim truyện màu 35 ly của Hãng phim Giải phóng. 

Sau này tôi thân với anh Lê Hữu Lương là thông qua anh Huyền, chủ nhiệm phim, trưởng phòng quảng cáo của Hãng. Chúng tôi thành bộ ba khắng khít, chuyện gì cũng kể cho nhau nghe. Anh Lương tính tình điềm đạm nhưng rất sắc bén, lý luận rất hay. Không biết đối với người khác ra sao chứ đối với tôi và anh Huyền lúc nào anh cũng nhường một bước, rất dễ dàng thỏa hiệp. Có lẽ vì vậy mà chúng tôi chơi với nhau rất lâu, cho đến ngày người trước người sau đều nghỉ hưu. Nhớ lúc còn gặp nhau mỗi ngày ở Hãng, cứ vài ba bữa một lần chúng tôi lại rủ nhau đi ăn lẩu cá kèo. “Ê, Phusi! Đi làm vài ve nhé”, đến bây giờ tôi vẫn nhớ đến giọng nói chắc, khỏe đầy nghiêm túc của anh, cho dù đó là rủ đi nhậu. 

Anh Lê Hữu Lương đúng là một đạo diễn tài hoa. Gia tài anh để lại gồm nhiều bộ phim gây tiếng vang như: Tiếng dương cầm trong mưa, Có một tình yêu như thế, Tấm cám, Bản chúc thư, Ảo ảnh, Vũ khúc trong đêm, Trái tim người mẹ...

Riêng bộ phim Trái tim người mẹ thì tôi được làm chung với anh. Phim quay hầu hết ở Bình châu, Xuyên mộc. Phong cách làm việc của anh pha lẫn giữa Lê Hoàng Hoa và Hồng Sến, rất “quý tộc” nhưng cũng rất lăn xả cùng anh em khi cần thiết. Khi vui đùa anh cũng cực kỳ thoải mái với tiếng cười sang sảng, giòn tan. 

Nhớ quá giọng cười của anh. 


(31/3/2020)



DIỄN VIÊN “TÀI TỬ” HUỲNH DU


 Có một chàng trai quê ở Sóc Trăng, mười tám tuổi đã đến với điện ảnh và giữ được niềm đam mê ấy cho đến bây giờ. Nhưng thực ra anh là một nhà kinh doanh, đóng phim chỉ là nghề tay trái. Người ấy chính là diễn viên Huỳnh Du. 

Đã gọi là đam mê nên Huỳnh Du ít khi từ chối một vai nào dù lớn nhỏ. Các đạo diễn lúc đọc kịch bản hoặc viết phân cảnh thường "chấm vai" cho những nhân vật quan trọng nên có khi cố tình viết thêm vài cảnh "đắc địa" cho diễn viên ấy. Phim nào cũng phải casting để tìm ra diễn viên phù hợp, nhưng không phải trong tay đạo diễn chưa có ai, mà lúc nào cũng có vài diễn viên "available"- có sẵn. Khi xem một bộ phim đôi lúc ta thấy có vai nào đó diễn xuất thật hay, thật tài tình khiến ta có cảm giác diễn viên ấy là người "không thể thay thế". Trước hết, đó là tay nghề của đạo diễn khi casting. Thứ đến chính là tài năng của diễn viên. Huỳnh Du là diễn viên "hân hạnh" nằm trong danh sách được "chấm vai". Theo tuổi đời, nghề diễn viên của anh cũng ngày thêm già dặn mặc dù phim ảnh với anh chỉ là "một cuộc chơi", bởi vì "Nghề chơi cũng lắm công phu" như đại thi hào Nguyễn Du đã viết. 

Viết đến đây tôi muốn chơi chữ với Huỳnh Du cho vui một tí: Tôi muốn gọi anh là Diễn viên "tài tử" Huỳnh Du :-)

Là doanh nhân tham gia điện ảnh, ngoài việc mê đóng phim, có lần anh còn "bạo gan" làm luôn nhà sản xuất phim. Tôi nhớ đó là bộ phim Đoạn Cuối Thiên Đường- bộ phim thị trường đầu tiên của đạo diễn Hồng Sến. Lúc ấy tôi làm trợ lý kinh tế cho chủ nhiệm Bùi Đức Tầm. Hiểu được nỗi lo lắng của Huỳnh Du về kinh phí cho đoàn phim, một bữa trong đại cảnh có rất đông diễn viên quần chúng, tôi bàn với anh: "Anh đừng lo thất thoát tiền bạc. Ngày mai anh chuẩn bị sẵn phiếu để phát cho anh em đóng phim, lúc quay xong ai có phiếu thì mang lại lãnh tiền. Huỳnh Du mừng lắm, làm y vậy. Anh tư Hồng Sến cũng thương Huỳnh Du lắm, ai xúi quay thêm cảnh này cảnh nọ là bác liền: "Tốn tiền lắm, tội nghiệp thằng Du tụi bây ơi". 

Huỳnh Du được anh em đoàn phim, nhất là các đạo diễn thương quý, nhờ tánh tình hiền hậu, khiêm tốn. Vậy mà anh toàn được giao những vai ác như sát thủ, ông hội đồng, trùm băng đảng buôn lậu mà tuý...và hoàn thành vai diễn rất ấn tượng. Vai ác mở hàng cho sự nghiệp điện ảnh của anh là vai chú lính ngụy bắn chết Châu- người yêu của Bé Ba (Thuý An đóng) trong bộ phim Mùa Gió Chướng. Sau đó là sát thủ bắn chết Ly Kai  trong Ván Bài Lật Ngữa. Vai nhỏ nhưng được khán giả nhớ, đó chính là niềm vui lớn của người nghệ sĩ. 

Tôi ngồi thử đếm các bộ phim mà Huỳnh Du đã tham gia từ năm 1978 mà thấy nhiều quá nên cũng làm biếng. Chỉ có những bộ phim sau này thì dễ nhớ vì báo chí khen nhiều và khán giả cũng thích như Mùa Hè Lạnh (đạo diễn Ngô Quang Hải), Chàng Trai Cầu Ông Me, Lòng Dạ Đàn Bà (đạo diễn Hồ Ngọc Xum), Truy Tìm Dấu Vết, Đôi Mắt Ân Tình, Tham Vọng (đạo diễn Xuân Cường)... Gần đây tôi được dịp gặp lại Huỳnh Du trong bộ phim điện ảnh Đường Xuyên Rừng (bộ phim chiến tranh- Hãng phim Giải Phóng sản xuất theo đơn đặt hàng của Cục Điện Ảnh). Là bạn bè của tôi và đạo diễn Xuân Cường nên Huỳnh Du cũng đồng ý góp mặt cho vui. 

Là doanh nhân thành đạt nên Huỳnh Du đến bây giờ vẫn chỉ là "tài tử khách mời" của điện ảnh. Nhưng dù sao cuộc dạo chơi của anh trong vườn hoa nghệ thuật thứ bảy đầy mê hoặc vẫn tạo ra một nét đẹp đáng trân trọng, giống như một kẻ lữ hành vừa thưởng thức, vừa biết góp phần chăm sóc các loài hoa. 


Sĩ Huỳnh







Nhớ mãi Tết xưa

  Hồi nhỏ khoái tết, giờ vẫn khoái y vậy. Mấy ngày tết nhà “tràn ngập” bánh mứt, dưa hấu, nước ngọt. Có những 3,4 kết nước ngọt để ở phòng k...